Theo luật bảo hiểm xã hội mới nhất, phường hội ta xưa đại để chia ra khiến cho 2 mẫu người: quan và dân. Quan là người giúp vua điều khiển guồng máy chính trị để đem lại trật tự, an ninh cho dân. Quan trường do Nho phái xuất thân, cách thức kén người ra khiến quan gọi là Khoa cử.
Theo luật bảo hiểm xã hội mới nhất, ngoài ra, làm quan không cứ phải theo cử nghiệp, ngoài Khoa cử ta còn sở hữu lệ Cống cử, hay Bảo cử, nghĩa là những quan phải tiến cử những người với tài và mang đức ra làm cho quan. Nhưng bí quyết này ko sản xuất đủ người cho bộ máy hành chánh vì những người đứng ra Bảo cử, ví như lỡ tiến lầm người dở thì sẽ bị nghiêm trừng, do vậy thường xuyên phải dùng Khoa cử để kén thiên tài
một hình vẽ năm 1895 mô tả cảnh các thí sinh đang làm cho bài.
Khoa cử xuất hiện trong khoảng bao giờ?
Nguyễn Hiến Lê (Triết học Trung Quốc, Chiến Quốc Sách), Đào Duy Anh (Trung Quốc Sử Cương), trằn Văn Giáp (Khai Trí Tập San), trần Quốc Vượng (Lịch Sử Việt Nam, I) đều chép Khoa cử xuất hiện ở Trung quốc từ nhà Tuỳ, nhà con đường (cuối thế kỷ thứ VI, đầu thế kỷ thứ VII), thời nhà Hán chỉ có lệ dân cử người hiền tài, song theo Chu Thiên (Bút Nghiên) và thứ nhất è Trọng Kim (Nho Giáo) thì Khoa cử bắt đầu với trong khoảng Hán Vũ Đế: “Hán Vũ Đế (140 tr. TL) ra bài sách cho những người đã trúng tuyển, trong số ngừng thi côngĐây với Đổng Trọng Thư”. Ta có thể hiểu là Khoa cử manh nha trong khoảng nhà Tây Hán, nhưng tới nhà Tuỳ, nhà tuyến phố mới được khai thác và tổ chức với quy mô.
Theo luật bảo hiểm xã hội mới nhất, cùng chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, song Việt Nam, Cao Ly và Nhật Bản đặt ra Khoa cử từ lâu, Âu châu phải đợi đến thế kỷ thứ XIX mới dùng thi cử để kén người (1).
Thời Bắc thuộc (111 tr. TL-938) văn hoá cổ của ta – và có nhẽ cả chữ Việt cổ – dần dần bị chính sách đồng hoá của Trung Hoa hủy diệt (2). Chữ Hán được nâng lên địa vị chính thức. Tuy thế, người Nam muốn học cao và thi cấp trên vẫn phải sang tận Trung quốc. Năm 845, vua nhà đường lại hạn chế số sĩ tử của ta sang thi khoa tiến sĩ ko được quá 8 người, thi khoa Minh kinh (giảng giải kinh sách) không được quá 10 người (3). Người hiển đạt thời đó còn hi hữu nhưng không phải là không mang, chẳng hạn :
Đời Hán Minh Đế (58-75) với Trương Trọng, người Giao chỉ, du học Lục dương, rồi khiến cho Thái thú Kim thành.
Đời Hán Linh Đế sở hữu Lý Tiến, người Giao Châu, khoảng 184-89 được khiến cho Thứ sử Giao châu (như Thủ hiến), Sĩ Nhiếp lúc đó khiến cho Thái thú.
Đời trục đường mang Khương Thần Dực, người quận Cửu chân, làm Thứ sử châu Ái (Thanh Hoá). 2 Người cháu du học kinh kì Tràng An, cùng đỗ Tiến sĩ: Khương Công Phục làm đến Bắc bộ Thị lang, anh là Khương Công Phụ làm tới Gián nghị Đại phu dưới trục đường Đức Tôn và trục đường Thuận Tôn (4).
Sang thời tự trị, sau khi chỉnh đốn việc nước, năm 1075 vua Lý Nhân Tôn mở khoa thi Tam trường (thi Đại khoa gồm ba kỳ) trước hết ở nước ta, mô phỏng theo Khoa cử của Trung quốc. Dần dần về sau, những triều trần, Hồ, Lê, Mạc v.v…cải sửa thêm, đến đời Lê Thánh Tôn, thế kỷ XV, Khoa cử cực cường thịnh.
trong khoảng Lê trung hưng trở đi, Khoa cử ngày một xuống dốc, thiên về hư văn.
những thí sinh đi vào trường ốc Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm cho lều và đặt chõng để viết bài.
các điểm dị biệt mang Trung Hoa
Tuy rập theo khuôn mẫu của Trung Hoa, song Khoa cử ở Việt nam cũng có những điểm khác biệt :
1) trước tiên, ngoài Bắc sử, ta phải học thêm Nam sử để biết rõ thêm các gì đã xẩy ra ở nước mình.
2) Tuy chữ Hán giữ địa vị chính thức ngay cả thời tự trị, nhưng ta đã dựa vào chữ Hán đặt ra 1 thứ chữ riêng để viết thêm các âm không mang trong chữ Hán, gọi là chữ Nôm (có lẽ do chữ “Nam” đọc chệch đi). Chữ Nôm được Hồ Quý Ly là người trước tiên đem ra dịch Kinh sách trong khoảng thế kỷ thứ XIV, mãi đến 1565, đời Mạc Mậu Hợp, mới sử dụng chữ Nôm lần đầu trong 1 khoa thi tấn sĩ (đề mục kỳ đệ tứ là một bài phú Nôm), và phải đợi tới quang Trung mới dùng chữ Nôm trong khoa thi Hương trước tiên ở Nghệ An, Nguyễn Thiếp, tức La Sơn cu li Tử, khiến Đề Điệu (thời đấy Chánh khảo là quan văn, gọi là Đề Điệu, sau này chức Đề Điệu trỏ vào một quan võ trông coi quy trình trong trường thi).
Nhờ biết dùng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, ta đặt ra chiếc chơi chữ rất độc đáo, người Tầu không thể với được, chả hạn trong câu :
Da trắng vỗ so bì bạch
“bì” là da, “bạch” là trắng, là chữ Hán, nhưng “bì bạch” lại là chữ Nôm lúc diễn đạt tiếng vỗ trên da giết mổ. Câu này rất khó đối, mãi vừa qua mới thấy ông Phan Ngọc đưa 1 vế đối chỉnh của 1 người bạn :
Rừng sâu mưa lâm thâm (5)
3) Trung quốc cho thi Tú tài riêng gọi là Phủ thí, năm sau thi Cử nhân gọi là Hương thí, nhưng ở Việt Nam, ít nhất cũng dưới triều Nguyễn, Cử nhân và Tú tài thi chung, người đỗ gọi là Cử nhân, người hỏng nhưng được xếp cao cho đỗ Tú tài, trung bình cứ lấy đỗ một Cử nhân thì lấy đỗ ba Tú tài. Tú tài được miễn nhiễm vụ cùng sưu thuế, nhưng không được phép thi Hội (6).
Ở Trung quốc danh từ “Sinh đồ” chỉ các người từ nhà học, nhà hiệu tại những châu, huyện cử ra, Cống cử hay Hương cống ko do nhà học, nhà hiệu ra, mà do trúng tuyển, trong khi ở Việt Nam, thi Hương trúng ba trường thì gọi là Sinh đồ (ông Đồ), sau gọi là Tú tài, đỗ cả bốn trường thì gọi là Hương cống (ông Cống), sau gọi là Cử nhân.
4) Chu Xán, Thị lang bộ Lễ nhà Thanh, sang sứ Việt Nam năm 1688, về ghi trong Sử giao ký sự: “Trường thi nước đó không có nhà khiến sẵn, sĩ tử phải ngồi trong lều phục xuống đất mà viết” (7). Mãi đến 1843, vua Thiệu Trị mới cho xây trường thi bằng gạch trước nhất ở Thừa Thiên. Trước chậm triển khai, mỗi khoa thi người ta xây trường sơ lược nhà tranh vách nứa để sau lúc thi phá bỏ lấy đất trồng trọt, nhưng bởi là đất công, không người nào chăm bón, nên cây cằn cỗi, đứng xa thấy cả khu trường ốc vượt trội lên 1 mầu vàng úa giữa đám cây cối xanh tươi xung quanh.
5) Theo Lê Quý Đôn, triều đình ta “đối mang các người thi đỗ đãi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao…so sở hữu việc đặt khoa trường ở Trung quốc trong khoảng xưa đến giờ chưa từng có”.
Công hay tội ?
Trong non 1 ngàn năm tự trị, Nho học và Khoa cử đã huấn luyện được đa dạng bậc khoa giáp ngoài sự nghiệp văn chương đều mang công giúp nước, triều nào cũng có, xin nhất thời nêu ra :
Đời nai lưng sở hữu Chu Văn An (?-1370) đỗ tấn sĩ, giữ chức tư nghiệp (dậy ở Quốc Tử Giám, tức trường Đại học của ta), dậy thái tử và con các Đại thần, dâng sớ “thất trảm” đòi chém 7 kẻ gian thần, vua ko nghe, ông treo mũ trong khoảng quan. Sau được thờ trong Văn Miếu, nghĩa là nơi thờ cúng Khổng Tử, ông tổ đạo nho.
Đời Hồ sở hữu Nguyễn Trãi (1380-1442) đỗ Thái học trò (như Tiến sĩ). Sau khi giúp Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, ông viết bài “Bình Ngô Đại Cáo” được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của nước ta (8) và là tác fake phổ thông thơ văn Hán Nôm còn lưu truyền.
Đời Nguyễn sở hữu Nguyễn Công Trứ (1778-1859) đỗ hương nguyên, thi Hương (1819), lập đa dạng công to và đặc thù khai khẩn đất hoang miền duyên hải Nam Định và Ninh Bình, lập ra 2 quận Tiền Hải, Kim Sơn, và hai tổng Hoành Thu, Minh Nhất.
Từ khóa: luat bao hiem xa hoi moi nhat. Có thể tìm hiểu thêm luat bao hiem xa hoi moi nhat tại https://www.dkn.tv/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét